Để mô tả sự contact giữa hai sự vật trong thiên hà, triết học Trung hoa hiện ra nguyên tắc Ngũ Hành kể cả 5 nhân tố tượng trưng cho năm cơ quan tạng phủ hay năm năng lực khí hóa : Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy. Nguyên tắc Ngũ Hành có thể đc phát biểu như sau : « phàm cái gì hiện hữu đều có cái sinh ra nó, cái khắc nó, cái nó sinh ra and cái nó khắc, tạo thành một toàn thể 5 nhân tố contact chặc chẻ. »

Nguyên tắc này dùng cho những phần tử (éléments) vật chất hoặc những năng lực khí hóa nhưng nó bị giới hạn trong một đơn vị thời điểm nào đó tùy từng sự vận hành của nhân tố vật chất nầy.


*

*

Phật giáo hiện ra hai nguyên tắc để giải thích sự đối sánh nầy : Duyên Sinh and Duyên Hệ

1/ DUYÊN SINH : (hay DUYÊN KHỞI) là nguyên tắc giải thích sự đối sánh nhân quả trong tiến trình sinh tử, tử sinh của chúng sanh trong vòng luân hồi. Nguyên tắc Duyên sinh có thể đc phát biễu như sau :

« Khi cái nầy có, cái kia có.

Bạn đang xem: Nhân duyên là gì

Bài Viết: Nhân duyên là gì

Khi cái nầy không có, cái kia không có ».

2/ DUYÊN HỆ : là nguyên tắc đề cập một cách thức tổng quát and rốt ráo sự đối sánh giữa hai nhân tố có thể là vật chất hay tinh thần, đồng thời còn cho biết đặc tính của sự contact giữa hai nhân tố.

Nguyên tắc Duyên hệ tiến xa hơn một bước :

« Khi cái nầy có, cái kia không có

Khi cái nầy không có, cái kia có

Cái sinh sau trợ duyên cho cái sinh trước (hoặc ngược lại)

Cái yếu trợ duyên cho cái mạnh (hoặc ngược lại) »

Các bạn thử đi vào rõ rệt những nguyên tắc nầy.

DUYÊN SINH hay DUYÊN KHỞI

Duyên sinh hay Duyên khởi dịch từ chữ Paticca Samuppada (paticca= tùy thuộc, dựa vào ; samuppada = sanh khởi, phát sinh) nên còn đc gọi là thuyết « Tùy thuộc phát sinh » hay thuyết « Thập Nhị Duyên Khởi » hoặc « Thập Nhị Nhân Duyên ». Đây là thuyết nói về 12 nhân tố ảnh hưởng Nhân and Quả cùng nhau. Nhân tố trước là tình huống trợ duyên cho nhân tố sau sanh khởi để hoàn thành diễn trình sinh tử của vòng luân hồi. Thuyết nầy đề ra các tình huống nào bảo trì sự vận hành của bánh xe sanh tử and để cho nó xoay chuyển từ kiếp nầy sang kiếp khác.

1/ VÔ MINH : là sự biểu hiện của nhân Si (tâm sở Si), nói lên sự không sáng suốt, không đúng chuẩn, mù mờ diễn tiến của tâm trên hoài nghi and phóng tâm. Vô minh là chưa biết các gì xảy ra trong tâm mình (vô ký).Vô minh là chưa biết cái đáng biết and biết cái không đáng biết.

Các cái đáng biết là : khổ đau, nền tảng của nó, trạng thái giải thoát khỏi khổ đau and con đường dẫn tới sự chấm dứt của khổ đau (Tứ Diệu Đế)

Các cái đáng biết là : danh sắc trong hiện nay (pháp thiền để nhận diện danh sắc) ; danh sắc trong quá khứ and vị lai (sự luân hồi) ; Nhân duyên để để cho danh sắc sanh khởi, lưu chuyển and tái diễn (nhân quả, nghiệp báo).

Phật giáo dạy ta 3 mức độ của sự hiểu biết :

– hiểu biết qua sách vở, danh từ

– hiểu biết qua sự suy nghĩ, luận giải

– hiểu biết nhờ sự thâm nhập thấu đạt hiện trạng của sự vật. Trí tuệ trực giác nầy chỉ có đc khi tâm đã đc gột rửa mọi bợn nhơ, lậu hoặc .

Mặc dầu Vô Minh đc nêu lên trước tiên trong chuỗi 12 nhân duyên, nhưng đừng nên coi Vô Minh như 1 nguyên nhân trước tiên của chúng sanh, nhất là xem nó như 1 nguyên tắc của thiên hà. Vô Minh có nhân duyên là lậu hoặc

Như Thanh Tịnh Đạo (chương XVII, mục 36) đã viết : « Khi lậu hoặc sanh khởi, vô minh sanh khởi ».

Tóm lại:

* Thực chất của Vô Minh là tâm sở Si.

* Biểu thị của Vô Minh là sự không sáng suốt, mu mờ của tâm diễn tiến trên sự hoài nghi phóng tâm and không thấu hiểu các điều đáng biết.

* Kết quả của Vô Minh : làm vận chuyển sự luân hồi

* Nguyên nhân của nó là lậu hoặc

2/ Vô minh duyên cho HÀNH:Hành là sự chủ tâm, cố ý hành động qua thân khẩu ý để tạo nghiệp thiện, nghiệp bất thiện hoặc không tạo nghiệp : hành cũng nghĩa với nghiệp. Về phương diện đạo đức có 3 loại hành :

a/ Phúc hành : là nghiệp thiện qua thân, khẩu, ý :

– Qua thân : bố thí, trì giới, tham thiền, Ship hàng, kính trọng người đáng kính, hồi hướng công đức, tùy hỉ, học đạo, luận đạo, rèn luyện chánh kiến.

– Qua khẩu : nói lời chân thật, lời đoàn kết, hòa nhã, lời lợi ích.

– Qua ý : tu tập không tham, không sân, không ngã mạn, không tà kiến, không nghi ngại.

b/ Phi Phúc hành : là nghiệp bất thiện qua thân, khẩu, ý :

– Qua thân : bỏn xẻn, ôm giữ, phá giới (phạm luật), ăn chơi hưỏng thụ, khinh khi người già, ganh tức, ghanh tỵ, không học hỏi đạo lý, không đàm luận ý kiến, chấp thủ tà kiến, buôn lậu, bán vũ khí, chất ô nhiễm, kinh doanh bầy tớ.


– Qua khẩu : nói dối, nói đâm thọc, nói thô lỗ, nói nhảm nhí.

– Qua ý : tư tưởng tham ái and ngã mạn, ý nghĩ sân hận and bạo hành, các tư tưởng diễn dịch sai thực tại, các tư tưởng đi ngược lại với định luật thiên nhiên and con người.

c/ Bất động hành : là các hành động không tạo nghiệp, không cực tốt không xấu.

Tóm lại :

* Thực chất của Hành : là sự phối hợp của tâm với một số tâm sở thích hợp bên dưới sự chủ động của tâm sở (cetana) để tạo nghiệp.

* Biểu thị : hành động qua thân, khẩu, ý.

* Kết quả : nghiệp thiện, nghiệp bất thiện, hoặc không tạo nghiệp.

* Nguyên nhân thẳng trực tiếp là Vô Minh.

3/ Hành duyên choTHỨC

Tóm lại :

* Thực chất của thức : 19 tâm quả làm việc tái sinh.

* Biểu thị : sự tái sanh

* Kết quả : vòng luân hồi tiếp diễn

* Nguyên nhân : hành (nghiệp)

Còn nghiệp thì còn tái sanh, hết nghiệp thì hết tái sanh.

4/ Thức duyên cho DANH SẮC :

Danh Sắc ở đây chính là bào thai đã đc hình thành, noãn đã đc thụ thai.

Danh ở đây biểu hiện cho những tâm sở đồng sanh với tâm tái sanh tức là Thọ, Tưởng, Hành ( 3 uẩn: thọ, tưởng, hành).

 Sắc bộc lộ cho những sắc sanh do nghiệp. Có 18 loại sắc sanh ra do nghiệp là : 8 sắc bất ly, 5 sắc thần kinh, 2 sắc phái tính, sắc mạng quyền, sắc ý vật and sắc hư không.( xem them bài ngủ uẩn)

– Nếu tái sanh ở cõi có Ngũ uẩn thì Thức duyên cho cả Danh and Sắc.

– Nếu tái sanh ở cõi vô Sắc thì chỉ có 4 uẩn (thọ, tưởng, hành, thức), nên Thức chỉ duyên cho Danh mà thôi.

– Nếu tái sanh ở cõi vô tưởng chỉ có sắc uẩn, thì Thức chỉ duyên cho Sắc.

Tóm lại :

* Thực chất của Danh-Sắc : thức tái sanh + những sắc do nghiệp sanh.

* Biểu thị : một chúng sanh mới ra đời.

* Kết quả : sự hình thành của Ngũ uẩn.

* Nguyên nhân : của danh-sắc là thức tái sanh.

5/ Danh Sắc duyên cho LỤC NHẬP

Lục nhập là sự hình thành and phát triển của Lục Căn (hay 6 nội xứ) tức là hệ thần kinh của 5 giác quan and của não bộ. Ở tuần lễ thứ 6 các bạn đã cảm nhận thấy tượng hình các bộ phận thần kinh của những giác quan (Ở tuần lễ thứ 28 óc não đã có rất nhiều vóc dáng đôi khi nhưng phải đợi đến 25 tuổi thì óc não con người mới hoàn thành sự phát triển. Nếu như với Phật giáo ý căn là giác quan thứ 6. Như thế trong bụng mẹ thai bào đã có rất nhiều thể : nghe, nếm, đụng (trừ cảm nhận thấy vì không có ánh sang and ngửi vì không c ó mùi hương ). Vừa sanh ra là đứa trẻ có thể nhìn cảm nhận thấy.

Trung bình từ 18 tuần lễ (vị giác) cho đến 28 tuần (thính giác), 25 tuần (thị giác) là những giác quan đã có rất nhiều thể vận động đc.

Tóm lại:

– Thực chất của Lục Nhập : chính là Lục Căn hay 6 nội xứ

– Biểu thị : sự phát triển and hoàn thành của Lục Căn

– Kết quả : Lục Căn đã có rất nhiều thể giao tiếp với Lục trần khi sanh ra

– Nguyên nhân : thẳng trực tiếp của Lục nhập là danh sắc.

 6/  Lục nhập duyên cho XÚC

Xúc là sự gặp gở của Căn, Trần, Thức. Khi Xúc sanh khởi ở nhãn căn (thần kinh mắt) thì gọi là nhãn xúc

Như thế có 6 loại xúc tương ứng với 6 căn : Nhãn xúc, Nhĩ xúc, Tỷ xúc, Thiệt xúc, Thân xúc, Ý xúc. Thân xúc rất quan trọng trong thiền ,nhất là thiền hơi thở and thiền Tứ Oai Nghi.

Xúc chính là tâm sở Xúc kết hợp với những tâm Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức and Ý thức.

Tóm lại:

– Thực chất của Xúc : là tâm sở Xúc

– Biểu thị : sự gặp gở của căn, trần, thức

– Kết quả : có mặt của Thức quả

– Nguyên nhân : của xúc Lục nhập

 7/  Xúc duyên choTHỌ :

Thọ là cảm tính của tâm, kể cả khía cạnh cảm hứng and cảm tình của nó. Thọ chính là Thọ uẩn là một tâm sở trong 52 tâm sở. Không có tâm nào mà không mang Color cảm tính.

Có 5 loại thọ kết hợp với 6 loại thức (Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức and Ý thức) : Lạc (thân dễ chịu), Hỉ (tâm dễ chịu), Khổ (thân khó chịu), Ưu (tâm khó chịu), Xả (thân, tâm trung tính).

Tóm lại :

– Thực chất của Thọ : là tâm sở Thọ

– Biểu thị : Lạc, Hỉ, Khổ, Ưu, Xả

– Kết quả : sự có mặt của Thọ qua 6 loại Thức

– Nguyên nhân : Xúc

 

8/ Thọ duyên ÁI (vedana-paccaya TANHA)

Ái là tham lam, ham muốn, khao khát, tâm cầu

Là sự biểu hiện của tâm Tham qua 6 cửa : Sắc ái, Thinh ái, Hương ái, Vị ái, Xúc ái, Pháp ái, Các bạn muốn nhìn cảm nhận thấy Color, hình ảnh thích mắt, muốn nghe các âm lượng êm dịu, muốn ngửi các mùi hương nông nàn, muốn ăn các món ngon béo, muốn sờ đụng các vật trơn bóng, muốn hay biết các điều hấp dẫn. tham đắm những dục lạc trần thế


 

Theo quan điểm triết học Ái có 2 loại :

-Hữu Ái (bhava tanha) : sự ham muốn hiện hữu (désir ardent pour l’existence). Hữu ái đc phân chia làm 3 loại nữa :

– Dục ái (kamatanha) tham đắm những dục lạc trần thế: (désir ardent pour les expériences sensuelles)

– Sắc ái (rupatanha) : tham đắm trong cõi sắc giới (désir ardent pour les formes matérielles)

– Vô sắc ái (arupatanha) : tham đắm trong cõi vô sắc giới (désir ardent pour l’existence sans forme)

-Phi hữu ái (vibhavatanha), hay đoạn ái : ham muốn không hiện hữu ( désir pour la non-existence, ou d’auto-annihilation).

Trong định luật duyên khởi, đây là cái khâu (II) quan trọng nhất để thoát khỏi vòng luân hồi. Đúng vậy vì nó xảy ra trong kiếp hiện nay, nên ta có thể tác động đc. Còn khâu I xãy ra giữa quá khứ and hiện nay, y hệt như khâu III xãy ra giữa kiếp hiện nay and kiếp vị lai, nên ta đã không còn hành động đc.

Hành động như vậy nào ?

* Khi ta cảm nhận thấy một cảm hứng vui thích hoặc khoái lạc tức khắc Ái sẽ sanh lên. Đó là một thói quen tập nhiễm lâu đời, Ái là tâm tham. Các bạn muốn 6 trần phải êm ái, dễ chịu theo ý thích của mình and càng ngày càng có nhiều hơn nữa.

* Khi ta cảm nhận thấy một cảm hứng đau buồn, đau buồn (Thọ khổ, Thọ ưu) tức khắc Vô Ái (không thích) sẽ sanh lên. Vô Ái là sự tức bực, bức rức, bất bình, chối bỏ, tức giận đó là tâm Sân. Hoặc một loại Ái khác sanh lên là muốn đừng đau buồn đau buồn nữa. Như thế ta rất rõ ràng là THỌ duyên cho ÁI. Làm sao cắt đứt mối tương duyên nầy ? Chỉ có thiền Tứ Niệm Xứ mới cứu ta làm đc việc nầy, bằng cách thức quan sát những cảm thọ khi nó vừa sanh khởi, quan sát các trạng thái của tâm để nhận diện thế nào là tham, thế nào là sân, quan sát các đối tượng người sử dụng của tâm để cảm nhận thấy sự phát sanh and hoại diệt của chúng, để cảm nhận thấy các đặc tính điều chỉnh, bất tịnh gây khổ đau của chúng. Chỉ có quan sát như vậy các bạn mới tự tách rời ra khỏi lòng ham muốn, tâm sân hận, xem chúng như là một hiện tượng and không tự tương đồng với nó, chúng sẽ bị tiêu hoại and đã hết làm chủ ta đc nữa.

Tóm lại :

– Thực chất của Ái : là tâm tham hợp với những chiếm hữu thuộc tham and các chiếm hữu khác.

– Biểu thị : sự ham muốn qua 6 cửa

– Kết quả : nghiệp bất thiện nuôi dưỡng sự luân hồi

– Nguyên nhân : do THỌ

9/ ái duyên choTHỦ :

Thủ là sự giữ chặt, không buông bỏ, như người đã ghiền rượu hay ma túy, khó mà xa lìa các thói quen ấy.

Có 4 loại Thủ :

a- Dục thủ : bám víu vào các niềm vui dục lạc

b- Kiến thủ : bám víu vào các quan điểm cá nh ân hay sai lầm (các tà kiến)

c- Giới cấm thủ : bám víu vào các tập tục nghi lễ dị đoan, mê tín, không đưa đến giải thoát hay lợi ích tinh thần.

d- Ngã chấp thủ : bám víu vào ảo tưởng về một cái ta.

Thanh Tinh Đạo (XVII, 242) giải thích Ái là ham muốn các điều chưa đạt đc, còn THỦ là bám lâu các điều đã đạt đc (câu chuyên Nữ Hoàng thành con giòi)

Tóm lại :

– Thực chất của Thủ : là tâm tham hợp với với những chiếm hữu cũng như Ái

– Biểu thị : qua 4 sắc thái dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ and ngã chấp thủ.

– Kết quả : có sự bám víu, giữ chặt.

– Nguyên nhân : ái

10/ Thủ duyên cho HỮU

Chữ HỮU (existence, devenir) chỉ định các cõi sinh tồn khác nhau trong 3 cõi dục giới, sắc giới, vô sắc giới and đồng thời cũng nói lên các tiến trình đưa đến sự tái sinh trong các cõi đó. (Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu)

Có hai loại HỮU

a/ Nghiệp Hữu : là sắc thái chủ động and nguyên ủy (nguyên động lực) của đời sống hay toàn bộ những loại nghiệp thiện and bất thiện dẫn tới kiếp sống mới.

Nói theo Vi Diệu Pháp là 29 tâm thiện and bất thiện hiệp thế hành động bên dưới sự điều khiển của tâm sở Tư (cetana)

b/ Sanh Hữu : là tiến trình tái sanh and kiến tạo ngũ uẩn, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ…

Hữu là nghiệp ở hiện nay còn Hành là nghiệp trong quá khứ .

Nói chung :

– Thực chất : 29 tâm bất thiện and thiện hiệp thế.

– Biểu thị : tiến trình tái sanh vào 3 cõi : Dục giới , Sắc giới and Vô sắc giới

– Kết quả : (biến thành) cuộc sống trong 3 cõi.

– Nhân gần : của Hữu là Thủ. 

11/ hữu duyên SANH : (JATI)

Nếu như với con người SANH mô tả tiến trình từ lúc thụ thai cho đến khi ra khỏi bụng mẹ and tiếp tục cho đến hết tiến trình sinh trưởng (croissance). Ở người thiếu niên có thể kéo dài đến 25 tuổi and con gái đến 18 tuổi.

Sự tái sinh của chúng sinh tùy thuộc 4 nhân tố : nghiệp, cách thức sinh, chủng loại, sự khẩn cầu của 1 vị trời.


a- Nghiệp : Nghiệp là căn nguyên của sự luân hồi. Các bạn có nghiệp quá khứ (hành) and nghiệp hiện nay (hữu). Bao giờ hết nghiệp thì hết tái sanh. Cho nên cần phải tu để rũ sạch nghiệp

b- Cách thức sinh : – noãn sinh : các loài sinh từ quả trứng : chim, gà, vịt, rùa…

– thai sinh : như loài có vú sinh ra từ bào thai and cho con bú.

– thấp sinh : như loài ký sinh trùng sinh ra từ chỗ ẩm ướt.

– hóa sinh : tự sinh ra thẳng trực tiếp, không qua trung gian của bố mẹ như những vị trời, chư thiên, ma quỉ.

c- Chủng loại : Theo v ũ tr ụ luận c ủa Phật giáo, chúng sinh có 31 cõi sinh tồn

d- Sự khẩn cầu : tình huống nầy rất hiếm, do sự khẩn cầu của vị trời Sakka, là vua của cỏi trời 33, một vị trời có thể tái sinh làm người trong một hộ gia đình đã đc lựa chọn trước để sau nầy có thể đảm nhiệm một vai trò quan trọng trong cộng đồng loài người như là sẽ biến thành 1 chuyển luân thánh vương, một vị Phật.

Nói chung : – Thực chất : là sự bước đầu của một chúng sanh.

– Biểu thị : qua 4 cách thức : noãn, thai, thấp, hóa.

– Kết quả : một chúng sinh ra đời and trưởng thành.

– Nhân gần : là hữu (nghiệp).

12/ Sanh duyên cho LÃO TỬ

Lão, Tử là tiến trình ngược lại của sự sinh and trưởng. Tiến trình Lão hóa (sénescence) mở màn khi tiến trình sinh trưởng (croissance) chấm dứt vào khoảng 30 tuổi. Tiến trình sinh trưởng của bộ óc con người chấm dứt vào khoảng 25 tuổi.

Sau 30 tuổi chỉ còn là Hoại and Diệt. Đó là lẽ thường. Đừng nên có ảo tưởng là các bạn trẻ mãi không già.

Sự Tử tương tự sự Sinh, chỉ xảy ra trong 1 satna tâm, khi đó mọi chủng tử nghiệp đc trao truyền, giữa hai chúng sinh, vừa chết bên nầy and sẽ sinh ra bên kia trái đất để tiếp tục cuộc luân hồi không dứt.

Nếu như với khoa học sự chết xãy ra khi điện não đồ làm nên đường thẳng, đã hết các sóng não lến xuống theo nhịp độ nữa.

Theo đạo Phật có 4 cách thức chết :

a/ Chết vì hết tuổi thọ : tuổi thọ của mỗi loài sinh vật đã đc định trước theo các định luật di truyền and các tình huống sinh sống của mỗi loài, mỗi cá thể. Tuổi thọ của con người ở những nước văn minh đc kéo dài. Giờ đây Nhật and Pháp là các nước có nhiều bạn sống trên 100 tuổi nhất.

b/ Chết vì hết nghiệp : nghiệp ở đây có thể đc hiểu là sinh nghiệp của kiếp sống đó hoặc nghiệp của tất cả kiếp sống của một chúng sinh, như thế chúng sinh nầy đã đắt đạo quả A la Hán, đã thoát khỏi dòng sinh tử luân hồi.

c/ Chết vì hết tuổi thọ and hết nghiệp : đây là cái chết của người to tuổi, đã sống hết tuổi thọ sinh học and đồng thời hết nghiệp của kiếp sống đó

– hoặc là cái chết của một vị A la Hán không hề tuổi thọ (như của Đức Phật, của ngài Ananda (120 tuổi), ngài Ca Diếp…) Các vị nầy đã chết vì hết tuổi thọ and đồng thời cũng chấm dứt mọi nghiệp báu từ các tiền kiếp.

d/ Chết vì một Đoạn nghiệp : có các Đoạn nghiệp cho quả làm cắt đứt thình lình dòng sinh nghiệp trước kỳ hạn của kiếp sống. Đây là cái chết bất đắc kỳ tử do tai nạn, bịnh tật, hoặc tự tử. Sinh nghiệp là năng lực có thể làm phát sinh and bảo trì tâm and sắc trong đời sống hiện nay, đồng thời lúc vừa chết có khả năng tái tạo một đời sống mới, nó là sức khỏe để đưa đi tái sinh.

Nói chung : – Thực chất : là sự hoại diệt của danh and sắc.

– Biểu thị : là sự đau buồn, đau buồn của thân and tâm do sự già yếu bịnh tật and sự chết hoặc sự suy yếu dần của thân tâm do tuổi già.

– Kết quả : 4 cách thức chết.

– Nguyên nhân : do có sanh mới có Lão and Tử.

 

Các bạn đã học qua 12 nhân tố của thuyết Nhân duyên (hay Luật Duyên Khởi, hay còn gọi vòng luân hồi) trong đó các bạn cần cảnh báo các khía cạnh sau đây :

1/ Ba thời kỳ :

– kiếp quá khứ : gồm có : Vô Minh and Hành.

– kiếp hiện nay : gồm có từ Thức àHữu.

– kiếp vị lai: gồm có Sanh and Lão Tử.

Xem thêm: Giải Bài Tập Toán 5 Bài Luyện Tập Chung Trang 80 Luyện Tập Chung

Sự phân chia nhỏ ra ba thời kỳ là khiến cho cảm nhận thấy cấu tạo sanh khởi của nhân quả trong vòng luân chuyển của những kiếp sinh tồn. Điều nầy không có nghĩa là những nhân tố chỉ xuất hiện cố định trong 1 thời kỳ mà đã không còn xuất hiện and tác động ở thời kỳ khác. Như ngay trong kiếp hiện nay, cả 12 nhân tố đều hiện hữu and tác động lẫn nhau.

Thể Loại: Chia sẻ trình bày Kiến Thức Cộng Đồng
Bài Viết: Nghĩa của từ nhân duyên là gì ?